Sử 9

Tuần 1
Tiết 1 Bài 23:TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945
VÀ SỰ THÀNH LẬP NHÀ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
I. Lệnh tổng khởi nghĩa được ban bố
– Chiến tranh thế giới thứ hai ở giai đoạn cuối: phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện ( 8/ 1945 ).
– Trong nước : Quân Nhật hoang mang, dao động cực độ.
– Ngay khi nghe tin Chính phủ Nhật đầu hàng, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ra Quân lệnh số 1 kêu gọi toàn dân nổi dậy.
– Đảng ta họp Hội nghị toàn quốc ngày 14 và 15/ 8/ 1945 ở Tân Trào ( Tuyên Quang ), quyết định phát động Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trước khi quân đồng minh vào nước ta.
– Tiếp đó, Đại hội Quốc dân Tân Trào họp ngày 16/ 8 tán thành quyết định khởi nghĩa của Đảng, lập Uỷ ban Giải phóng dân tộc. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước nổi dậy khởi nghĩa.
II.Diễn biến tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945
– Sau khi Nhật đảo chính Pháp không khí cách mạng đã sôi sục trong cả nước. Các đội Tuyên truyền xung phong của Việt Minh hoạt động khắp thành phố…
– Ngày 15-8 Việt Minh tổ chức diễn thuyết ở các rạp hát trong thành phố. Ngày 16-8 truyền đơn, biểu ngữ kêu gọi khởi nghĩa xuất hiện khắp mọi nơi. Chính phủ bù nhìn lung lay tận gốc rễ.
– Ngày 19-8 mít tinh tại Nhà hát lớn biến thành cuộc biểu tình đánh chiếm các công sở chính quyền địch, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội.
– Từ 14 đến 18/ 9, bốn tỉnh giành được chính quyền sớm nhất là : Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam
– Khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Huế ( 23- 8 ), Sài Gòn (25-8). Đến 28-8 Tổng khởi nghĩa đã thành công trong cả nước.
– Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
III. Ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thành công cuả cách mạng tháng Tám
1) Ý nghĩa :
+ Cách mạng tháng Tám là sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc, phá tan hai xiềng xích nô lệ Nhật – Pháp, lật đổ ngai vàng phong kiến, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa nước ta trở hành một nước độc lập, mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc ta – kỉ nguyên độc lập, tự do.
+ Cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, góp phần củng cố hoà bình ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, trên toàn thế giới nói chung.
2) Nguyên nhân thắng lợi
– Dân tộc ta có truyền thống yêu nước sâu sắc, khi có Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh phất cao ngọn cờ cứu nước thì được mọi người hưởng ứng.
– Có khối liên minh công nông vững chắc, tập hợp được mọi lực lượng yêu nước trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.
– Điều kiện quốc tế thuận lợi, Liên Xô và các nước Đồng minh đánh bại phát xít Đức – Nhật.

Tuần 1 TiẾT 2
CHƯƠNG IV: VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN
BAØI 24 – CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ VÀ XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN DÂN CHỦ NHÂN DÂN( 1945 – 1946 )
I/ Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám
– Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch và bọn tay sai phản động ồ ạt kéo vào nước ta, âm mưu lật đổ chinh quyền cách mạng, thành lập chính quyền tay sai.
– Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân Anh cũng kéo vào, dọn đường cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta.
– Các lực lượng phản cách mạng ngóc đầu dậy chống phá cách mạng.
– Nền kinh tế nước ta vốn đã nghèo nàn lạc hậu còn bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Hậu quả của nạn đói cuối năm 1944- đầu 1945 chưa được khắc phuc, lụt lội, hạn hán diễn ra, Sản xuất đình đốn, nạn đói mới đe doạ đời sống nhân dân.
– Ngân sách nhà nước hầu như trống rỗng. Nhà nước chưa kiểm soát được Ngân hàng Đông Dương
– Hơn 90% dân số mù chữ, các tệ nạn xã hội tràn lan.
– Nước Việt nam đứng trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc.
II/Củng cố chính quyền cách mạng và bảo vệ độc lập dân tộc
1.Bước đầu xây dựng chế độ mới
Ngày 6-1-1946 nhân dân cả nước đi bầu Quốc hội khoá I với hơn 90% cử tri tham gia 2. Diệt giặc đói, giặc dốt và giải quyết khó khăn về tài chính
– Diệt giặc đói :
+ Biện pháp trước mắt là tổ chức quyên góp, lập hũ gạo cứu đói, tổ chức “ ngày đồng tâm”, kêu gọi đồng bào nhường cơm sẻ áo.
+ Lâu dài : Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, chia ruộng đất của địa chủ cho nông dân
Kết quả nạn đói được đẩy lùi
– Diệt giặc dốt :
+ Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ, kêu gọi mọi người tham gia phong trào xoá nạn mù chữ
+ Các trường học sớm được khai giảng, nội dung phương pháp dạy học bước đầu đổi mới
– Giải quyết khó khăn về tài chính:
Kêu gọi nhân dân đóng góp xây dựng “Quỹ độc lập”, phong trào “Tuần lễ vàng”. Quốc hội quyết định phát hành tiền Việt Nam 11/ 1946.
3. Nhân dân Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược
– Đêm 22 rạng sáng ngày 23-9-1945, quân Pháp đánh úp trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai.
– Nhân dân ta anh dũng đánh trả quân xâm lược ở Sài Gòn – Chợ Lớn, sau đó là ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ.
– Nhân dân miền Bắc tích cực chi viện sức người, sức của cho quân và dân miền Nam: Những đoàn quân “Nam tiến” nô nức lên đường vào Nam chiến đấu.
4. Đấu tranh chống quân Tưởng và bọn phản cách mạng
– Chủ trương của ta : Nhằm hạn chế sự phá hoại của bọn tay sai của Tưởng, Quốc hội đồng ý cho chúng 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử và một số ghế bộ trưởng trong Chính phủ Liên hiệp.
– Ta còn nhân nhượng cho Tưởng một số quyền lợi về kinh tế như cung cấp lương thực, nhận tiêu tiền quan kim,…
– Mặt khác, Chính phủ ban hành một số sắc lệnh nhằm trấn áp bọn phản cách mạng; giam giữ, lập toà án quân sự để trừng trị bọn phản cách mạng.
5/ Hiệp định sơ bộ (6/3/1946 ) và Tạm ước Việt Pháp (14-9-1946 )
– Tưởng Giới Thạch và Pháp kí hiệp ước Hoa – Pháp (28-2-1946), chúng bắt tay chống phá cách mạng nước ta
– Trước tình hình đó ta chủ động đàm phán, hoà hoãn với Pháp và kí hiệp định Sơ bộ ( 6-3-1946) nhằm đuổi quân Tưởng về nước, tranh thủ thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
– Nội dung Hiệp định Sơ bộ :
+ Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng.
+ Quân Pháp ra miền Bắc thay thế cho quân Tưởng để giải giáp quân Nhật và sẽ rút dần trong 5 năm.
– Cuộc đàm phán chính thức tại Phông-ten-nơ-blô ( Pháp ) thất bại. Hồ Chí Minh đã kí với chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày 14-9-1946, tiếp tục nhượng cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hoá ở Việt Nam.
* Ý nghĩa: Việc ta kí Hiệp định Sơ bộ và bản Tạm ước Việt – Pháp đã giúp ta loại được một kẻ thù là quân Tưởng, có thêm thời gian hoà hoản để chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài.